Bài gốc: Lessons in agriculture from Nepal’s Indigenous Kulung people – Dialogue Earth, đăng ngày 10/10/2025 (đây là phóng sự với nhiều ảnh và video, truy cập để xem đầy đủ)
Tác giả: Nerabung Kulung là một thành viên của cộng đồng Kulung – một cộng đồng từng chịu cảnh bị gạt ra ngoài lề xã hội trong lịch sử – đến từ miền đông Nepal. Cô dành trọn niềm đam mê cho việc bảo vệ di sản phi vật thể của các cộng đồng bản địa và đã nỗ lực làm việc để ghi lại di sản của chính dân tộc mình.
Được dịch nhờ sự hỗ trợ của Gemini, có sự kiểm tra của con người. Bài dịch nằm trong dự án Stone Hill Gathering, chi tiết dự án tại đây.
Mối gắn kết bền chặt của cộng đồng với đất đai đã nuôi dưỡng họ suốt nhiều thế kỷ. Nerabung Kulung ghi lại các nghi lễ tôn vinh mối dây liên kết này.
Đã 8 giờ tối và mọi người trong nhà đều đang chuẩn bị đi ngủ sau bữa tối, nhưng ngọn lửa vẫn bập bùng ở một góc bếp. Sambarman Okhati, một người cao tuổi 66 tuổi trong gia đình, lộ rõ vẻ âu lo khi cúi người bên nồi nước đang sôi. “Ngô cho lễ tos ngày mai vẫn chưa chín mềm,” ông lẩm bẩm.
Tos là một nghi lễ thờ cúng đất đai của cộng đồng người Kulung ở Nepal, trong đó dân làng cầu nguyện cho một vụ mùa bội thu và được một thủ lĩnh tâm linh chỉ dẫn nên gieo trồng loại cây nào. Mẻ ngô của ông Okhati, một trong những lễ vật của nghi lễ, vẫn còn quá cứng. “Không có nồi áp suất thì nó không thể mềm như mong muốn được,” ông thở dài.
Người bản địa Kulung là một nhánh thuộc cộng đồng Kirat rộng lớn hơn ở dãy Himalaya. Họ có ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, truyền thống riêng và vùng đất quê hương của tổ tiên – Mahakulung (“Đại Kulung”), nằm ở huyện Solukhumbu phía đông Nepal. Solukhumbu nổi tiếng là nơi tọa lạc của đỉnh Everest – ngọn núi mà người Kulung cùng các nhóm dân tộc khác gọi là Chomolungma (“Mẹ Nữ thần của Thế giới”) – cùng những dãy núi cao vút khác của dãy Himalaya. Thế nhưng, hiếm ai biết đến các khu định cư cổ xưa nép mình bên dưới những đỉnh núi phủ tuyết trắng xóa này. Tại Mahakulung, họ sinh sống ở độ cao từ 1.800 đến 3.000 mét, bao quanh bởi những ngọn đồi gồ ghề và các cánh rừng xanh rậm rạp.
Là một người xuất thân từ cộng đồng Kulung, tôi luôn tự hào về những truyền thống có ý thức bảo vệ môi trường được duy trì qua nhiều thế hệ của chúng tôi. Giờ đây, do quá trình hiện đại hóa và khoảng cách thế hệ ngày càng lớn, việc trao truyền tri thức đã bị gián đoạn. Tình trạng thiếu vắng các tài liệu văn bản ghi chép lại càng đặt ra một thách thức lớn hơn.
Là một phần trong dự án Indigenous Voices (Tiếng nói Bản địa) của Dialogue Earth, tôi muốn ghi chép lại các tập quán vô giá này, vừa để bảo tồn cho các thế hệ tương lai, vừa để làm nổi bật những tri thức bảo tồn mà tôi tin rằng có thể giúp ích cho các cộng đồng khác.
Trong những chuyến về thăm cộng đồng trước đây, tôi đã từng nghe nói về tos nhưng chưa từng có cơ hội tận mắt chứng kiến nghi lễ này. Năm nay, cuối cùng tôi cũng đã được trải nghiệm – vào tháng Chaitra (tháng Ba – tháng Tư) tại làng Chemsi và làng Chachalung. Điều tôi nhận ra là nghi lễ này vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa là minh chứng cho mối gắn kết mật thiết của cộng đồng với môi trường sống xung quanh.
Ghi lại nghi lễ tos
Trong nghi lễ tos, người Kulung thờ cúng tổ tiên, và quan trọng không kém, là đất đai, núi non cùng những tảng đá lớn vốn tạo nên không gian sinh sống của cộng đồng họ. Nghi lễ diễn ra tại các địa điểm sinh hoạt chung linh thiêng được gọi là toskham (kham có nghĩa là “nơi chốn” trong tiếng Kulung).
“Tos được thực hiện nhằm ăn mừng và bày tỏ lòng biết ơn đối với mùa màng mới trên nương rẫy, cũng như để cầu mong sự che chở, mùa màng bội thu tương tự trong tương lai,” ông Okhati chia sẻ với tôi. “Chúng tôi cũng cầu nguyện tổ tiên phù hộ để xua tan hạn hán, mưa lớn, sạt lở đất và nạn sâu bệnh phá hoại mùa màng.”
Tos được cử hành mỗi năm ba lần vào các thời điểm then chốt của lịch nông nghiệp khi các mùa luân chuyển, ông Okhati giải thích: “Mỗi lễ tos lại mang ý nghĩa khác nhau, vì vậy nokchho sẽ thực hiện các nghi thức khác biệt cho từng đợt lễ.”
Đầu tiên là yau tos, được cử hành vào tháng Chaitra sau khi công việc gieo hạt đã hoàn tất. Trong nghi lễ này, dân làng cầu mưa thuận gió hòa và đất đai màu mỡ để từng hạt giống đều có thể nảy mầm và phát triển tươi tốt.
Tiếp đến là yenam tos, được tổ chức vào tháng Jestha (tháng Năm – tháng Sáu). Khi mùa mưa đang đến gần, mọi người cầu nguyện cho mưa gió không tàn phá mùa màng. Nghi lễ này cũng mở đầu cho koyo – một khoảng thời gian kiêng cữ với nhiều điều cấm đoán nghiêm ngặt, bao gồm cả một số loại thực phẩm nhất định, cho tới kỳ tos tiếp theo.
Tho tos được tổ chức vào tháng Ashoj (tháng Chín – tháng Mười), khi mùa mưa đã dứt và bầu trời quang đãng trở lại. Những điều kiêng cữ được áp đặt trong dịp yenam tos sẽ được gỡ bỏ, và cộng đồng cùng nhau ăn mừng bằng các nghi thức cùng lễ hội, chẳng hạn như chakchakur (Năm mới của người Kulung), nagi (nghi lễ dâng mẻ nông sản thu hoạch đầu tiên lên tổ tiên và các vị thần của gia đình) và denam (nghi lễ làm hài lòng tổ tiên và thần linh). Khi mùa màng chín rộ trên đồng ruộng, nokchho cầu nguyện cho một vụ thu hoạch bội thu. Một người dân địa phương chia sẻ rằng đợt tos này thường có số lượng người tham dự đông đảo hơn so với hai đợt lễ còn lại.
Xét riêng từng nơi, các nghi thức tos này cũng có thể được cử hành khác nhau ở mỗi ngôi làng thuộc Mahakulung, tùy thuộc vào phân nhánh dòng tộc chiếm ưu thế của cộng đồng người Kulung tại khu vực đó. Dẫu vậy, những lễ vật chủ đạo từ cộng đồng – như kê, wakpum (ngô luộc) và chhopchhou (những mẩu thịt lợn nhỏ hoặc móng sừng của hươu) – cùng tinh thần gắn kết tập thể nhằm tôn vinh tổ tiên và đất mẹ vẫn luôn được kết nối xuyên suốt qua từng biến thể nghi lễ.
Năm nay tại lễ yau tos ở làng Chemsi, nokchho (luôn là nam giới), khoác trên mình bộ trang phục hành lễ, đã dẫn dắt nghi thức thờ cúng bằng những cành và lá của cây weipou (một loại cây dẻ). Ông đọc những lời nguyện cầu, trước khi dâng cúng wakpum cùng di (thứ rượu làm từ hạt kiều mạch hoặc hạt kê) lên tổ tiên và vùng đất xung quanh, cũng như lên những hòn đá yongkholung – vốn giữ vai trò trung tâm trong nghi lễ. Những người tham dự gõ hurgel (chũm chọe), thổi pung (tù và sừng trâu) và biểu diễn một điệu múa truyền thống gọi là tos sil (sil có nghĩa là “điệu múa”). Tại mỗi toskham, một ngọn lửa sau đó được thắp lên gần hòn đá yongkholung, và chhopchhou được dâng lên tổ tiên cùng thần linh.
Ở Chemsi, còn có một tập tục độc đáo là phạt mỗi hộ gia đình 1 NPR (khoảng 0,007 USD) nếu họ không tham dự tos. Số tiền phạt thu được sẽ dùng để mua thức ăn cho nokchho.
Nông dân bị cấm làm việc vào đúng ngày diễn ra tos và ngày hôm sau. “Suốt cả năm trời, người nông dân làm lụng vất vả trên đồng và gây ra những tiếng ồn ào từ việc cày xới, đào bới,” Swasta, một dân làng 51 tuổi ở Chemsi, chia sẻ. “Đất đai đồng ruộng cũng cần có chút thời gian để nghỉ ngơi, tĩnh lặng và phục hồi sinh lực, bạn có nghĩ vậy không?”
Nghi thức lật hòn đá yongkholung
Những hòn đá yongkholung thường được nokchho lựa chọn qua trực giác thần thánh hoặc sau khi nhìn thấy chúng trong một giấc mơ. Mỗi toskham đều có một hòn đá yongkholung. Trong một kỳ lễ tos, hòn đá yongkholung được lật lên để hé lộ những gì ẩn náu bên dưới, báo trước tình hình nông nghiệp của mùa vụ sắp tới. Một số loài côn trùng báo trước những điều kiện thuận lợi cho các loại cây trồng cụ thể, trong khi những loài khác lại gợi ý về những mối đe dọa tiềm tàng.
Tại lễ yau tos năm nay, dân làng Chemsi tập trung trong sự hồi hộp ngóng chờ khi nokchho quan sát lớp đất dưới mỗi hòn đá yongkholung để tìm kiếm nhện và những con kiến đen đang đẻ trứng trắng. “Thời vận tốt cho ngôi làng,” nokchho nói, “nhưng có thể sẽ có một vài trận mưa đá phía trước”. Cùng lời dự báo vừa mừng vừa lo này, ông sau đó đã khuyến khích việc gieo trồng kê, khẳng định rằng loại cây này sẽ cho năng suất tốt trong mùa vụ này.
Khi được hỏi liệu dân làng có làm theo lời khuyên của nokchho hay không, Okhati dứt khoát đáp lời: “Dĩ nhiên rồi! Họ là nông dân, họ phải nghe theo lời chỉ dẫn của ông ấy về việc gieo trồng và chuẩn bị cho phù hợp chứ.”
Thứ niềm tin như vậy là không thể lay chuyển ở những người cao tuổi như Okhati, những người thấu hiểu một năm mất mùa có thể mang lại những điều gì. Ông kể cho tôi nghe về đợt hạn hán khốc liệt năm 2028 BS (năm 1971). “Cả làng thậm chí chẳng còn lấy một ngọn tầm ma để ăn,” ông nói. “Chúng tôi ăn bất cứ loại lá cây và bụi rậm nào ăn được mà mình tìm thấy.”
Những lời nói của ông mang trọn sức nặng của sự cân bằng mong manh giữa tự nhiên và sinh kế. Khi các công việc dẫn đường đi bộ leo núi (trekking) và khuân vác (portering) lên đỉnh Everest cùng các vùng núi khác chỉ đem lại nguồn thu nhập theo mùa vụ, thì vào thời điểm đó, nông nghiệp không chỉ là một nguồn sinh kế – đó còn là vấn đề sống còn, nơi mỗi một vụ thu hoạch đều mang ý nghĩa sống còn.
Người dân ở Chachalung chia sẻ rằng họ tin các nokchho ngày nay không còn những thấu suốt sâu sắc và quyền năng như các bậc tiền bối đi trước. Điều này biểu trưng cho sự chia rẽ thế hệ ngày càng gia tăng, một hiện tượng phần nào được nhìn nhận như sự phân tách giữa truyền thống tâm linh và tư duy logic thời hiện đại.
Một người dân từ Bung, một ngôi làng khác ở Mahakulung, chia sẻ với tôi rằng quyền năng của một nokchho không chỉ bắt nguồn từ thế giới tâm linh, mà còn từ sự thông tuệ được bồi đắp sau nhiều thế hệ quan sát và gắn bó mật thiết với đất đai. “Quan sát các loài côn trùng dưới phiến đá và trong lòng đất… với một số người có thể bị xem là mê tín và thậm chí huyễn hoặc, thế nhưng đằng sau những truyền thống này đều có lý do riêng,” ông nói.
“Nếu thấy mối xuất hiện, người ta tin rằng mùa màng có thể sẽ bị sâu bệnh tàn phá – rốt cuộc thì theo tự nhiên mối vốn đục khoét gỗ và cây cối mà. Nếu đất ẩm ướt, đó được xem là dấu hiệu của sự màu mỡ, và người ta sẽ kỳ vọng vào một vụ mùa bội thu. Nếu đất khô cằn, đợt hạn hán sẽ được dự báo. Còn nếu thấy giun đất, mọi người kháo nhau rằng năm đó sẽ có nhiều mưa hơn,” ông giải thích.
“Những điều này có thể không được ghi chép trong các sách vở khoa học,” ông nói thêm, “nhưng chúng hoàn toàn không phải là vô căn cứ. Chúng đến từ hàng thế kỷ trải nghiệm thực tế cùng sự quan sát cẩn trọng các quy luật tự nhiên của tổ tiên chúng tôi.” Dù vậy, ông cũng đồng tình rằng cách thức truyền khẩu truyền thống này đồng nghĩa với việc độ chính xác của chúng hiện nay đã bị ảnh hưởng, hậu quả từ việc ngày càng có ít người chăm chỉ tham gia vào các hoạt động và nghi lễ như tos do thiếu sự quan tâm.
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Mahakulung là nơi sinh sống của gần 12.000 người, theo cuộc điều tra dân số Nepal năm 2021. Dù phần lớn hiện nay làm việc trong ngành giảng dạy, công chức nhà nước, kinh doanh hoặc làm người dẫn đường leo núi (trekking guide), nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng đối với cộng đồng. Trên địa hình khắc nghiệt và giá lạnh của khu vực, người dân địa phương trồng các loại cây như kê, kiều mạch, ngô và khoai tây làm lương thực chính. Các loại cây hoa màu thương phẩm như bạch đậu khấu và chè cũng được canh tác, và quả kiwi – thứ quả trước đây chưa từng được biết tới – đã dần trở nên phổ biến trong những năm gần đây nhờ khả năng thích nghi với khí hậu địa phương.
Thế nhưng, thời tiết biến đổi, những chuyển dịch môi trường cùng sự gia tăng dân số nhìn chung đã khiến việc đạt được năng suất mùa màng cao trở nên khó khăn. Dù các vật tư đầu vào hiện đại như thuốc trừ sâu và phân bón hóa học luôn sẵn có, chúng lại bị coi là những mối đe dọa lâu dài đối với sức khỏe đất và sức khỏe con người.
Một người nông dân từ làng Bung đã miêu tả cách các tập quán truyền thống đang dần biến đổi: “Trước đây, sau hai năm gieo trồng ngô, chúng tôi để đất nghỉ (bỏ ải) để đất phục hồi độ phì nhiêu. Giờ đây, do dân số gia tăng, điều đó là bất khả thi.” Thay vào đó, họ trồng các loại cây họ đậu – đậu tương, đậu lăng và lúa mì – giúp phục hồi độ phì nhiêu của đất nhờ các vi khuẩn trong nốt sần ở rễ cây. Những loài cây như tống quán sủ Nepal (Nepalese alder) và kutmero cũng rất được coi trọng nhờ đặc tính làm giàu cho đất. Thế nhưng kiều mạch, dù là cây lương thực chính, lại được gieo trồng một cách thận trọng vì người ta tin rằng nó làm cạn kiệt chất dinh dưỡng của đất. Trong khi đó, việc làm đất cho vụ ngô tuân thủ một biểu lịch nghiêm ngặt gắn liền với sự phát triển của cây trồng.
Cộng đồng người Kulung có một niềm tin chung rằng không nên xáo trộn đất đai một cách không cần thiết. “Nếu bạn đào một cái hố rồi bỏ mặc nó trống không, cuộc đời bạn cũng sẽ trở nên rỗng tuếch như cái hố đó,” một câu tục ngữ địa phương răn dạy. Một người dân giải thích rằng những chiếc hố không được lấp đầy sẽ tích nước, làm yếu cấu trúc đất và khiến sạt lở đất dễ xảy ra hơn. Nhìn chung, các loài cây rễ cọc sâu được ưu tiên trồng, còn các loài cây rễ chùm nông bị tránh trồng, đặc biệt là tại những khu vực có nguy cơ sạt lở đất cao.
Giữa những tập quán nông nghiệp đang đổi thay và những niềm tin mới dần xuất hiện, khả năng chống chịu của cộng đồng nằm ở năng lực thích ứng trong khi vẫn cắm rễ sâu vào tri thức tổ tiên cùng các tập quán sinh hoạt chung, chẳng hạn như lễ tos. Đối với họ, những tập quán này không chỉ đơn thuần là một bữa tiệc nghi lễ hay hoạt động tiêu khiển, mà đúng hơn là một nỗ lực có chủ ý nhằm sống hài hòa với thiên nhiên và thúc đẩy sự thịnh vượng chung của cả cộng đồng.
Những người cao tuổi trong cộng đồng bày tỏ nỗi lo ngại về việc liệu các nghi lễ này có thể tồn tại được hay không, trước tình trạng ngày càng ít người thuộc thế hệ trẻ tham gia cùng những ưu tiên đang dần thay đổi như xu hướng di cư ra các đô thị, cũng như những tác động từ đời sống hiện đại bao gồm cả công nghệ.
Dẫu vậy, hy vọng vẫn chưa hoàn toàn vụt tắt. Giữa đám đông tại lễ yau tos năm nay ở Chemsi, bên cạnh các bậc cao niên còn có một người tham dự 27 tuổi đang hòa mình hết sức sâu sắc vào nghi lễ.
“Là người trẻ, trách nhiệm của chúng tôi là tiếp nối di sản mà tổ tiên để lại,” anh chia sẻ với tôi.
Lời khẳng định giản dị ấy chính là dấu hiệu cho thấy thế hệ trẻ đang bắt đầu nhận ra giá trị của những phong tục này – không đơn thuần là các tập quán truyền thống, mà còn là những tri thức quý báu từng được tôi luyện qua bao gian khó của tổ tiên, và giờ đây được trao gửi lại cho họ.
