Bài gốc: Op-Ed | A New Future for Farming, Food, and Health – Food Tank, đăng ngày 16/08/2026
Tác giả: David R. Montgomery là giáo sư ngành Khoa học Trái Đất và Không gian tại Đại học Washington. Cuốn sách mới nhất của ông là ReGen: A New Future for Farming, Food, and Health.
Được dịch nhờ sự hỗ trợ của Gemini, có sự kiểm tra của con người. Bài dịch nằm trong dự án Stone Hill Gathering, chi tiết dự án tại đây.
Sự gián đoạn nguồn cung phân bón toàn cầu gần đây đã thúc đẩy việc đánh giá lại những quan niệm sai lầm then chốt vốn định hình cách nhìn nhận về các chính sách nông nghiệp. Sau một thế kỷ nền nông nghiệp thông thường hiện đại vận hành, những tác động vẫn đang tiếp diễn đối với đất, nước, đa dạng sinh học, người nông dân và người tiêu dùng càng làm tăng thêm sự thừa nhận về nhu cầu cấp thiết phải cải tổ hệ thống trồng trọt và thực phẩm. Các hệ thống canh tác tái sinh tập trung vào việc bồi đắp sức khỏe đất mang lại tiềm năng tái định hình nền nông nghiệp và vạch ra con đường mới hướng tới một tương lai bền vững, nhưng lại thách thức những quan điểm nền tảng của các phương thức canh tác thông thường vốn đang gây thoái hóa đất. Cuốn sách mới của tôi, ReGen: A New Future for Farming, Food, and Health, chia sẻ cách thức các phương thức canh tác tái sinh đảo ngược lối tư duy truyền thống có thể xoay chuyển mô thức suy thoái đất kéo dài bấy lâu.
Khi nghiên cứu lịch sử suy thoái đất trên toàn thế giới, tôi nhận thấy nền nông nghiệp thông thường ngày nay gây ra cả sự xáo trộn vật lý lẫn hóa học đối với đất và sinh vật đất. Khi sự suy thoái đất do xáo trộn vật lý (làm đất) làm suy giảm độ phì nhiêu tự nhiên, người nông dân dần phải phụ thuộc vào phân bón tổng hợp để duy trì năng suất cao. Trong khi nông nghiệp hữu cơ loại bỏ sự xáo trộn hóa học và phương thức canh tác không cày xới loại bỏ sự xáo trộn vật lý, các hệ thống canh tác tái sinh không phụ thuộc vào việc làm đất hay sử dụng hóa chất nông nghiệp định kỳ, mà thay vào đó giảm thiểu hoặc tránh cả hai hình thức xáo trộn này.
Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu và viết về tình trạng kiệt quệ của đất cùng các hệ thống canh tác tái sinh trên khắp thế giới, tôi đã học được cách nhìn thấu những quan niệm sai lầm then chốt của nền nông nghiệp hiện đại vốn đang cản trở tiến trình giải quyết một trong những vấn nạn lâu đời nhất của nhân loại, đồng thời định đoạt tương lai chung của chúng ta. Ba quan niệm sai lầm nổi bật nhất bao gồm:
Quan niệm sai lầm thứ nhất cho rằng chúng ta phải lựa chọn giữa bảo vệ môi trường và nuôi sống thế giới. Theo kinh nghiệm của tôi, các nhà nông học truyền thống, các nhà báo và giới hoạch định chính sách thường mặc định có một mâu thuẫn cố hữu giữa canh tác bền vững và thách thức nuôi sống mọi người. Thế nhưng, dù các nghiên cứu thường được trích dẫn báo cáo rằng cây trồng theo phương thức thông thường có năng suất cao hơn 10 – 20% so với cây trồng hữu cơ, một nghiên cứu vào năm 1990 so sánh năng suất hữu cơ và thông thường đã phát hiện ra rằng trong gần một nửa các phép so sánh trực tiếp, năng suất hữu cơ tương đương hoặc vượt trội so với canh tác thông thường. Và một nghiên cứu toàn cầu tiếp theo vào năm 2007 đã mở rộng phạm vi so sánh và phát hiện rằng năng suất hữu cơ ở các nước phát triển tính trung bình thấp hơn dưới 10% so với canh tác thông thường, nhưng lại vượt trội so với canh tác thông thường ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu ước tính rằng nông nghiệp hữu cơ sử dụng cây họ đậu làm cây che phủ có thể cung cấp đủ lượng đạm để bù đắp việc sử dụng phân bón tổng hợp, đồng thời vẫn đáp ứng được nhu cầu lương thực toàn cầu trên diện tích đất hiện đang canh tác.
Tương tự, một bài đánh giá năm 2015 nhận thấy việc luân canh cây trồng hữu cơ đa dạng hóa đã thu hẹp khoảng cách năng suất xuống dưới 10%, và kết luận rằng việc tăng cường đầu tư vào nghiên cứu hữu cơ hoàn toàn có tiềm năng xóa bỏ khoảng cách này. Và một nghiên cứu năm 2018 chỉ ra rằng sự chênh lệch năng suất giảm dần theo thời gian, khi chỉ cần vài năm bồi đắp đất trong các hệ thống hữu cơ đôi khi đã xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách năng suất. Tôi đã tận mắt chứng kiến điều này tại các trang trại tái sinh trên khắp thế giới, nơi năng suất đạt mức ngang bằng hoặc vượt trội so với các trang trại thông thường lân cận, sau khi đã phục hồi sức khỏe đất.
Nói một cách ngắn gọn, việc tái thiết những vùng đất khỏe mạnh có thể duy trì năng suất cao, chỉ là không thể thực hiện bằng các phương thức canh tác thông thường hiện nay. Chúng ta không cần phải hủy hoại sức khỏe đất để nuôi sống thế giới.
Quan niệm sai lầm thứ hai cho rằng canh tác tái sinh không thể nhân rộng quy mô để thay thế các phương pháp thông thường. Trong khi các nhà bình luận chính thống thường có phản xạ hoài nghi liệu canh tác tái sinh có thể thực hiện ở quy mô lớn hay không, tôi đã tới thăm những trang trại khổng lồ mà tôi đánh giá là theo hướng tái sinh. Trang trại lớn nhất có diện tích hơn 20.000 mẫu Anh tại Nam Dakota. Tại trang trại cơ giới hóa cao này, quá trình chuyển đổi sang không cày xới, trồng cây che phủ và luân canh đa dạng đã cải thiện rõ rệt sức khỏe đất so với các trang trại láng giềng. Tác động lên nền đất hiển hiện rất rõ qua một con đường đất ở rìa trang trại. Thửa ruộng thông thường bên cạnh, vốn được cày xới định kỳ, thì trơ trọi, nứt nẻ và bạc màu, hoàn toàn đối lập với nền đất tối màu, ẩm ướt và được che phủ bởi lớp mùn của thửa ruộng tái sinh.
Mặc dù điều này cho thấy các trang trại lớn, cơ giới hóa cao có thể vun đắp đất khỏe mạnh, nhưng vô số các trang trại nhỏ lại mở ra một con đường khác để nhân rộng quy mô canh tác tái sinh. Việc giúp các trang trại nhỏ sinh lời nhiều hơn và đứng vững hơn về mặt kinh tế có thể nhân rộng các hệ thống canh tác bồi đắp đất ra diện rộng. Cả trang trại quy mô lớn lẫn quy mô nhỏ đều có thể tái tạo nền đất màu mỡ, khỏe mạnh, nhưng các cách tiếp cận khác nhau sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất cho những địa phương và quy mô canh tác khác nhau. Các trang trại lớn rất phù hợp cho hoạt động sản xuất tái sinh các loại ngũ cốc và cây trồng theo hàng thích hợp với cơ giới hóa (như đậu tương, hoa hướng dương và cải dầu), trong khi các trang trại nhỏ lại rất thích hợp cho sản xuất rau màu tái sinh.
Hơn nữa, các trang trại lớn không hề có hiệu quả hay năng suất cao hơn một cách mặc nhiên. Một đánh giá toàn cầu năm 2021 nhận thấy các trang trại nhỏ cho năng suất cao hơn, tạo nên sự đa dạng cây trồng lớn hơn và thu hoạch được nhiều thực phẩm hơn trên mỗi mẫu Anh so với các trang trại lớn. Nói cách khác, việc nhân rộng quy mô canh tác tái sinh có thể đòi hỏi phải hỗ trợ cả các trang trại lớn lẫn trang trại nhỏ trong những bối cảnh khác nhau. Vấn đề thực chất không nằm ở chỗ canh tác tái sinh có thể nhân rộng quy mô được hay không, mà là làm thế nào để điều chỉnh các phương thức thực hành trên các trang trại lớn và nhỏ nhằm bồi đắp thay vì làm thoái hóa sức khỏe đất.
Quan niệm sai lầm thứ ba cho rằng chúng ta cần cây trồng biến đổi gen (GM) để nuôi sống mọi người. Cây trồng GM là một điểm nóng tranh cãi đã quá quen thuộc trong nông nghiệp, và ta thường nghe những người ủng hộ tuyên bố rằng nhân loại cần chúng để nuôi sống thế giới. Quả thực, khi mới ra mắt, cây trồng GM được quảng bá như giải pháp giúp tăng năng suất mùa màng và giảm sử dụng thuốc trừ sâu. Song cả hai lời hứa đó đều không trở thành hiện thực.
Bất chấp niềm tin rằng cây trồng GM sẽ giúp tăng năng suất, năng suất ngô ở châu Âu, nơi ngô GM không được cấp phép, vẫn tăng với tốc độ tương đương ở Hoa Kỳ. Điều này đồng nghĩa với việc đặc tính biến đổi gen của ngô Hoa Kỳ không phải là yếu tố thúc đẩy tăng năng suất. Thay vào đó, sự tăng trưởng song song ở châu Âu và Bắc Mỹ bắt nguồn từ công tác lai tạo giống cây trồng vốn mang lại lợi ích cho người nông dân ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Điều này đặt ra câu hỏi về những gì chúng ta có thể đạt được nếu dành sự hỗ trợ nghiên cứu cho việc nhân giống cây trồng nhằm tối ưu hiệu quả trong các hệ thống canh tác hữu cơ hoặc tái sinh, ở mức độ tương đương với những gì xã hội từng dồn dập đổ vào nông nghiệp thông thường và cây trồng GM trong lịch sử.
Trong số các loại cây trồng GM thành công nhất về mặt thương mại là những giống được chỉnh sửa để chống chịu thuốc diệt cỏ glyphosate. Cây trồng được thiết kế để kháng glyphosate mang lại cho nông dân một nút bấm tiện lợi để kiểm soát cỏ dại, từ đó thúc đẩy việc áp dụng canh tác không cày xới. Kết quả là việc sử dụng thuốc diệt cỏ trên toàn cầu gia tăng, dẫn đến những thay đổi dây chuyền ngoài ý muốn đối với sinh vật đất, gây tổn hại đến sức khỏe đất.
Tuy vậy, tôi vẫn nhận thấy những tiềm năng ứng dụng mà ở đó cây trồng GM có thể chứng minh tính hữu ích trong việc xây dựng sức khỏe đất. Ví dụ, cây trồng GM có thể tăng cường khả năng chịu hạn hoặc hàm lượng dinh dưỡng nếu chúng ta định hướng công nghệ này vào các mục tiêu như vậy. Dẫu vậy, cho đến nay, cây trồng GM thường tạo điều kiện và dựa dẫm vào việc sử dụng các sản phẩm gây xáo trộn sinh vật đất, gia tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh và gây ra những hệ lụy ngoài ý muốn, làm nảy sinh nhu cầu tiêu thụ thêm các sản phẩm hóa chất nông nghiệp. Đó là một mô hình kinh doanh nông nghiệp hiệu quả hơn là một chiến lược nông nghiệp đúng đắn. Dù việc bồi đắp sức khỏe đất không nhất thiết phải xung đột với cây trồng GM, nhưng mấu chốt nằm ở cách thức công nghệ này được triển khai.
Nhìn xa hơn những quan niệm sai lầm từng thúc đẩy lối tư duy nông nghiệp thông thường suốt thế kỷ qua, canh tác tái sinh có thể góp phần mở ra một tương lai mới bồi đắp sức khỏe đất cho trồng trọt, thực phẩm và sức khỏe. Để duy trì nền canh tác thâm canh bước vào kỷ nguyên hậu dầu mỏ, chúng ta cần tích hợp những hiểu biết về sinh thái học đất thu nhận được trong các thập kỷ gần đây vào các hệ thống canh tác bồi đắp đất, dựa trên nguyên tắc giảm thiểu cả sự xáo trộn vật lý lẫn hóa học.
Tư duy truyền thống đã bỏ sót những khía cạnh then chốt về cách thức trồng trọt tác động lên đất, sinh vật đất, và chính chúng ta. Tình trạng suy thoái đất bắt nguồn từ việc người nông dân tiếp cận sinh thái đất một cách ngược đời, hủy hoại sinh vật đất thay vì tạo điều kiện và gắn kết hàng nghìn tỷ trợ thủ tí hon này trên đồng ruộng.
Dù muốn hay không, nền nông nghiệp cũng sẽ phải thay đổi trong thế kỷ này khi dân số toàn cầu ngày càng tăng phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu cùng sự mất mát và suy thoái đất đang tiếp diễn. Lối mòn kinh doanh như thường lệ sẽ đặt sự an lạc của các thế hệ mai sau vào vòng nguy hiểm, chúng ta buộc phải làm điều gì đó khác đi với đất đai của mình. Thật may mắn, nông nghiệp tái sinh hoàn toàn có thể đảo ngược dòng chảy suy thoái đất. Bước đi gian nan nhất có lẽ chính là việc nhìn thấu những quan niệm sai lầm cốt lõi của nền nông nghiệp hiện đại.
