Bài gốc: Land crisis and ‘green revolution’ practices trap millions of Malawi’s farmers – Mongabay, đăng ngày 18/08/2026
Tác giả: Charles Mpaka là một nhà báo người Malawi với hơn 10 năm kinh nghiệm trong nghề. Từ một phóng viên đa năng, ông dần dành sự quan tâm sâu sắc đến việc đưa tin về nông nghiệp, môi trường và khoa học bảo tồn.
Được dịch nhờ sự hỗ trợ của Gemini, có sự kiểm tra của con người. Bài dịch nằm trong dự án Stone Hill Gathering, chi tiết dự án tại đây.
- Sản lượng thu hoạch ngô của Malawi hầu như không tăng trong hai thập kỷ qua ngay cả khi dân số nước này bùng nổ, khiến hàng triệu người dễ bị tổn thương trước tình trạng thiếu lương thực mỗi năm.
- Các nông hộ nhỏ chật vật sản xuất đủ lương thực trên những mảnh đất canh tác manh mún do chi phí phân bón đắt đỏ, đất đai bị thoái hóa, mưa nắng thất thường và khả năng tiếp cận các khoản trợ cấp của chính phủ thiếu ổn định.
- Nhiều nông dân phải bán phần lớn lượng ngô của mình để chi trả cho các nhu cầu thiết yếu cơ bản, sau đó phụ thuộc vào các vụ rau màu đầy rủi ro hoặc những công việc thời vụ khan hiếm để mua lương thực trong những tháng giáp hạt.
- Sau hai thập kỷ thực thi chính sách nông nghiệp tập trung vào cây ngô, các chuyên gia và nông dân cho rằng Malawi cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các mô hình canh tác đa dạng, có khả năng chống chịu và các sinh kế nông thôn, thay vì chỉ đơn thuần sản xuất thêm nhiều ngô.
GOLIATI, Malawi — Tất cả những gì còn lại để ăn trong căn nhà một gian của Tapiwa Ligomeka được cất trong một chiếc chậu nhựa nhỏ đặt ở góc phòng. Hai ngày trước đó, chồng cô mang về nhà 2 kg bột ngô, khoảng 5 pound — tất cả những gì anh có thể mua được sau một ngày chật vật làm thuê khuân vác hàng cho các tiểu thương tại một khu chợ gần đó, ở huyện Thyolo thuộc miền nam Malawi này.
Vào ngày Mongabay đến thăm nhà cô, Ligomeka vừa trở về căn nhà mái tranh ở làng Goliati, tay ôm một bó thân cây ngô và đậu triều khô để lát nữa nhóm lửa, đứa con 8 tháng tuổi được địu trên lưng. Lúc này trời đã gần trưa Chủ nhật; chồng cô vẫn đang ở ngoài tưới cho ruộng cà chua gần sông.
“Tôi sẽ đợi anh ấy,” Ligomeka, 18 tuổi, vừa nói vừa đặt bó củi xuống cạnh bếp lửa lạnh tanh ở hàng hiên. “Chừng này bột không thể nấu đủ nsima để chúng tôi ăn riêng được.” Nsima là thuật ngữ trong tiếng Chewa dùng để chỉ món ăn chính của người Malawi, một loại cháo đặc làm từ bột ngô và thường được ăn kèm với rau củ, các loại đậu, và với những ai có điều kiện hơn, là thịt hoặc cá.
“Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tối nay chúng tôi sẽ chẳng có gì để ăn,” Ligomeka nói, vừa đong lượng bột bằng những vốc tay phải. “Đôi khi, tình cảnh đó kéo dài suốt hai ngày.”
Cô cho biết hai vợ chồng thu hoạch được 178 kg (392 lb) ngô từ mảnh ruộng nhỏ của mình vào tháng Ba. Họ không đủ tiền mua phân bón cho mảnh đất chưa đầy nửa mẫu Anh (acre), tương đương một phần năm hecta, và đã phải bán bớt một phần ngô để lấy tiền mua đường, xà phòng cùng dầu ăn cho gia đình.
Giờ thì số ngô đó đã cạn kiệt.
Sự phụ thuộc của quốc gia vào cây ngô
Tại Malawi, ngô là thước đo định nghĩa an ninh lương thực. Cây trồng này chiếm gần 90% diện tích đất được phân bổ cho sản xuất ngũ cốc.
Chính phủ ước tính vụ thu hoạch ngô năm 2026 của Malawi đạt 3,3 triệu tấn, tăng 15% so với năm trước. Con số này vẫn thấp hơn nhu cầu ngô toàn quốc từ 3,5 triệu đến 3,7 triệu tấn. Chính phủ cho biết sự thiếu hụt này sẽ khiến tới 2,6 triệu người rơi vào cảnh đói kém trong thời kỳ giáp hạt giữa tháng 10 và vụ thu hoạch tiếp theo vào tháng 3 năm 2027. Trớ trêu thay, phần lớn những người bị ảnh hưởng lại nằm trong số hơn 4 triệu nông hộ nhỏ — lực lượng trụ cột cho hoạt động sản xuất ngô của đất nước.
Dữ liệu của chính phủ cho thấy, mỗi năm trong suốt bốn năm qua, có khoảng từ 3,8 triệu đến 6,2 triệu người dân Malawi phải chịu cảnh thiếu hụt lương thực.
Vào năm 2014, Malawi cùng các chính phủ châu Phi khác đã “tái cam kết” với một loạt định hướng chính sách trước đó nhằm tăng cường năng lực nông nghiệp. Tuyên bố Malabo của Liên minh châu Phi đã đưa ra chiến lược tăng trưởng do nông nghiệp dẫn dắt để đạt được sự thịnh vượng và an ninh lương thực, đặt mục tiêu tăng gấp đôi năng suất của người nông dân trên lục địa vào năm 2025. Các chính phủ phải phân bổ 10% ngân sách quốc gia cho khu vực này, đồng thời xây dựng mối quan hệ đối tác với sự tham gia của các doanh nghiệp nông nghiệp, xã hội dân sự và nông dân nhằm: mở rộng khả năng tiếp cận các loại hạt giống và phân bón chất lượng với giá cả phải chăng; tăng cường hệ thống thủy lợi và quản lý nước; cải thiện khả năng tiếp cận cơ giới hóa và năng lượng cho nhiều nông dân hơn; và nâng cao sâu rộng tri thức, thông tin cùng các kỹ năng.
Vì nhiều lý do khác nhau, những cam kết này đã không trở thành hiện thực.
Ngay sau khi Chương trình Toàn diện về Phát triển Nông nghiệp Châu Phi ban đầu được thông qua vào năm 2003, chính phủ Malawi đã bắt đầu trợ cấp phân bón và hạt giống ngô cho những nông dân nghèo. Hằng năm, khoảng 1 triệu nông dân dự kiến được phân bổ hai bao phân bón loại 50 kg (110 lb) và 5 kg (11 lb) hạt giống ngô lai.
Trong một thập kỷ trước khi chương trình trợ cấp vật tư nông nghiệp được triển khai, sản lượng thu hoạch ngô của Malawi chỉ dao động trong khoảng từ 1,3 triệu đến 1,6 triệu tấn. Khoản trợ cấp đã tạo ra sự khác biệt ngay lập tức: Vào vụ mùa 2005–2006, khi chương trình bắt đầu, Malawi đã sản xuất được 2,7 triệu tấn ngô — dư thừa nửa triệu tấn so với nhu cầu ước tính của cả nước năm đó, và tăng hơn gấp đôi so với mức 1,25 triệu tấn của năm trước (phải thừa nhận là vụ mùa thấp nhất của Malawi trong một thập kỷ do mưa bão bất lợi).
Hồ sơ của chính phủ cho thấy vụ thu hoạch năm 2007 tiếp tục tăng lên mức 3,4 triệu tấn. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2011, sản lượng ngô đạt trung bình 3,6 triệu tấn. Đầy khích lệ là vậy, nhưng 20 năm sau, sản lượng vẫn chỉ dậm chân tại chỗ ở mức này — ngay cả khi dân số Malawi đã tăng hơn một phần ba, và hiện nay đã chạm mốc hơn 21 triệu người.
Khoản trợ cấp không còn mang lại hiệu quả
Trở lại ngôi làng Goliati của Ligomeka, trưởng thôn Chimwemwe Matiza (thường được gọi theo tập tục địa phương bằng tên của làng là Chombo), cho biết mưa nắng ngày càng thất thường, tình trạng thiếu đất gay gắt và đất đai bị thoái hóa vẫn là những nguyên nhân chính dẫn đến nạn đói ở nơi đây.
“Ở ngôi làng này, bạn không thể tìm thấy nổi 20 nóc nhà thu hoạch được 20 bao [khoảng 1 tấn] ngô mỗi năm,” bà chia sẻ với Mongabay tại nhà riêng.
“Chúng tôi không có đất ở đây, và những hộ có mảnh đất nhỏ thì lại không có phân bón. Phân bón ngoài thị trường tự do rất đắt đỏ, còn phân bón giá rẻ của chính phủ thì chẳng thấy đâu,” bà nói.
Nhiều báo cáo, bao gồm cả các báo cáo từ chính chính phủ, đã chỉ ra rằng chương trình này đầy rẫy tham nhũng, quy trình thu mua kém hiệu quả và giá cả leo thang theo từng năm, tước đi cơ hội tiếp cận vật tư đầu vào của nhiều nông dân.
Tình trạng khan hiếm đất đai ở huyện Thyolo bắt nguồn từ các hoạt động thương mại. 42% diện tích đất trong huyện có thổ nhưỡng cằn cỗi hoặc địa hình không phù hợp cho việc vun đắp canh tác. Trên phần diện tích còn lại, toàn huyện tập trung một vùng đồn điền chè bạt ngàn. Thyolo là một trong hai huyện trồng chè lớn nhất của Malawi, bên cạnh vùng láng giềng Mulanje. Được chính quyền thực dân thiết lập vào đầu những năm 1900, các đồn điền này hiện chiếm hơn 1,4 triệu hecta (3,5 triệu mẫu Anh) đất ở miền nam Malawi, một cuộc điều tra vào năm 1996 đã chỉ ra.
Mười năm trước, với quy mô dân số 721.000 người, diện tích canh tác trung bình của một hộ gia đình ở Thyolo là 0,4 hecta, tức khoảng một mẫu Anh (acre).
Theo bà Chombo, nạn đói dai dẳng trong khu vực của bà đang làm trầm trọng thêm các thách thức xã hội, chẳng hạn như nạn tảo hôn và nạn trộm cắp tràn lan, cũng như các vấn đề về môi trường. Hoạt động khai thác cát không kiểm soát để kiếm thu nhập ngày càng gia tăng, tàn phá các lòng sông và gắn liền với các trận lũ lụt ngày càng có sức tàn phá dữ dội hơn trong mùa mưa, cùng tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng khi hạn hán ập đến. Hoạt động sản xuất than củi trái phép phần lớn đã san phẳng các khu rừng tự nhiên.
“Tôi đang phải chật vật để giải quyết những vấn đề này,” bà Chombo nói. “Làm sao bạn có thể xử phạt một người đang phá hoại khu rừng cộng đồng chỉ để kiếm cái ăn nuôi sống con cái mình?”
‘Nếu thất bát, tôi chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra’
Bên ngoài vụ ngô ở Goliati, các hộ gia đình trồng rau màu, chủ yếu là cà chua và bắp cải ở các bờ sông cùng những vùng dambo — những vùng đất ngập nước nông đặc trưng của khu vực này ở Malawi. Họ mang nông sản này bán tại các khu chợ đô thị ở Blantyre, thành phố thủ phủ cách đó khoảng 40 km (25 dặm).
Dưới cái nắng chói chang giữa trưa, Laston Mchiswe nhúng hai thùng tưới vào một vũng nước trên lòng sông Lichenza gần như đã cạn khô. Đi chân trần, anh gồng mình leo lên bờ sông xách theo các thùng nước để tưới cho 400 bắp cải của mình. Vào tháng Tư, anh thu hoạch được 260 kg (573 lb) ngô, nhưng cũng như gia đình Ligomeka, số lương thực đó đến nay hầu như đã cạn kiệt. Ruộng bắp cải này được kỳ vọng sẽ mang lại thu nhập để mua thực phẩm cho gia đình anh trong vài tháng tới.
“Nếu thất bát, tôi chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra,” người cha của 4 đứa con chia sẻ.
Vụ rau màu năm nay trông đầy triển vọng trên nhiều cánh đồng dọc bờ sông, nhưng những người nông dân cho biết tình trạng dư cung thường khiến giá rớt thảm hại, làm sụt giảm thu nhập của họ. Điều này có thể đẩy người trồng vào cảnh nợ nần — một viễn cảnh mà Ligomeka nói rằng cô vô cùng sợ hãi. Vợ chồng cô đã vay một khoản tiền tương đương 120 USD từ một thương lái nông sản để đầu tư vào vụ trồng cà chua. Thỏa thuận giữa hai bên là họ sẽ trả nợ bằng cà chua. Nếu giá sụp đổ, khoản nợ này có thể thâu tóm toàn bộ vụ thu hoạch của họ.
Có rất ít lựa chọn kiếm thu nhập khác trong huyện ngoài các mảnh ruộng rau. Các đồn điền chè mang lại công việc thu hái và chế biến theo mùa từ tháng Mười Một đến tháng Tư. Một thành viên công đoàn công nhân hái chè cho biết nhiều người kiếm được từ 150 đến 170 USD mỗi tháng. Thế nhưng công việc thời vụ này lại trùng với mùa vun đắp ngô, vốn cũng là thời điểm tình trạng thiếu hụt ngô diễn ra tồi tệ nhất.
Ngoài ra cũng có một số công việc tạp vụ và làm vườn tại khuôn viên nguy nga do Trung Quốc tài trợ của Đại học Khoa học và Công nghệ Malawi, được xây dựng tại huyện Thyolo vào năm 2014. Một số người dân địa phương đã dựng sạp bán thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cho sinh viên ở cổng trường, nhưng người dân cho biết tác động chủ yếu của trường đại học này là sự tranh giành thu mua những mảnh đất quý giá để xây ký túc xá cho sinh viên và nhà ở cho cán bộ nhân viên.
Nhìn xa hơn mô hình độc canh cây ngô
Lời mở đầu của Tuyên bố Malabo đã bày tỏ mối lo ngại sâu sắc về “sự phụ thuộc nặng nề và ngày càng gia tăng của các hệ thống sản xuất và mô hình tiêu thụ của chúng ta vào các yếu tố bên ngoài”, bao gồm thời tiết, thị trường toàn cầu và sự biến động của khí hậu. Đối với quá nhiều người dân ở các vùng nông thôn châu Phi, chính sách và thực tiễn mà các chính phủ áp dụng đã không thể xây dựng được khả năng chống chịu như đã cam kết cho các sinh kế nông thôn và hệ thống lương thực.
Timothy Wise, một nhà nghiên cứu kiêm tác giả người Mỹ, người đã theo dõi sát sao sự phát triển của chính sách nông nghiệp tại châu Phi trong suốt 20 năm qua, cho biết các chính phủ, các nhà tài trợ và những thể chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay AGRA (trước đây gọi là Liên minh vì Cách mạng Xanh ở Châu Phi) đã đẩy những nông hộ nhỏ của châu Phi ra khỏi một số vùng đất màu mỡ nhất, đồng thời khuyến khích họ áp dụng các phương thức canh tác thâm dụng đầu vào thiếu bền vững, khiến họ dễ bị tổn thương trước các cú sốc tài chính và khí hậu.
“Khi bạn thấy mình đang rơi vào một cái hố, nguyên tắc đầu tiên là phải ngừng đào sâu hơn nữa,” Wise chia sẻ với Mongabay qua email.
“Châu Phi cần phải bước xuống khỏi guồng quay công nghệ của các mô hình độc canh cách mạng xanh và nhìn vào những mô hình đầy cảm hứng do chính những người nông dân của họ tạo ra — những người đang vun đắp một sự đa dạng cây lương thực, phục hồi độ phì nhiêu của đất, tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc khí hậu, và làm được điều đó với chi phí thấp hơn rất nhiều,” ông nói.
‘Chúng tôi biết đâu mới là lương thực của mình’
Trở lại Thyolo, bà Chombo cho biết những lời kêu gọi — dù không thường xuyên — từ một số quan chức chính phủ và tổ chức phi chính phủ (NGO) về việc người dân Malawi cần từ bỏ sự phụ thuộc vào cây ngô chỉ là bình phong che đậy cho sự thất bại trong việc hỗ trợ thỏa đáng cho người nông dân.
“Họ bảo chúng tôi trên đài phát thanh rằng ngô không phải là loại lương thực duy nhất,” bà nói. “Nói thế thì tiện cho họ quá. Họ đang tự mâu thuẫn với chính mình. Chương trình trợ cấp đó được xây dựng dựa trên cây ngô vì họ thừa biết rằng ngô chính là an ninh lương thực ở Malawi.
“Vì vậy, họ không nên viện cớ cho việc không hỗ trợ đất đai, vật tư đầu vào và các dịch vụ khuyến nông để chúng tôi sản xuất đủ ngô bằng cách bảo chúng tôi hãy [ăn] khoai lang, cao lương và đậu triều”, bà nói thêm. “Chúng tôi vốn đã canh tác các loại cây này rồi và chúng tôi biết đâu mới là lương thực của mình.”
